*****
| MỞ HỒ SƠ VỀ ÔNG DƯƠNG TRUNG QUỐC |
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia viết về Ông Dương Trung Quốc:
| Dương Trung Quốc | |
| Đại biểu Quốc hội khóa XI | |
|---|---|
| Tổng thư ký Hội Sử học Việt Nam Tổng Biên tập Tạp chí Xưa và Nay | |
Đảng | Không đảng phái |
| Sinh | 2 tháng 6, 1947 (63 tuổi) Hà Nội, Việt Nam |
| Học vấn | Đại học |
| Dân tộc | Kinh |
| Tôn giáo | Không |
Dương Trung Quốc (sinh năm 1947), quê quán xã Bình Thành, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, là một nhà sử học và đại biểu Quốc hội Việt Nam các khóa XI, XII cho đơn vị tỉnh Đồng Nai. Là một trong số các đại biểu Quốc hội không phải đảng viênĐảng Cộng sản Việt Nam, ông Dương Trung Quốc nổi tiếng vì những phát biểu thẳng thắn của mình trong các kỳ họp quốc hội.
Ông cũng là Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Tổng Biên tập tạp chí Xưa & Nay và chủ tịch Hiệp hội Câu lạc bộ UNESCO Hà Nội.
CÂU NÓI:
- Một vài cơ quan truyền thông nước ngoài hỏi tôi có nghĩ rằng mình là "đối lập" không? Tôi trả lời tôi chỉ cố là một tiếng nói "độc lập" để đóng góp cho lợi ích chung thôi.
Trang website của Quốc hội cho biết tiểu sử Ông Dương Trung Quốc:
Tóm tắt tiểu sử
| Họ và tên khai sinh: | Dương Trung Quốc | |
| Ngày sinh: | 02/06/1947 | |
| Giới tính: | Nam | |
| Nơi cư trú: | Số 7 Ngõ Lê Văn Hưu 1, phường Ngô Thì Nhậm, quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội | |
| Dân tộc : | Kinh | |
| Tôn giáo : | Không | |
| Nơi ứng cử: | Đồng Nai | |
| Trình độ: | Đại học | |
| Chức vụ: | Tổng thư ký Hội Sử học Việt Nam, Tổng Biên tập Tạp chí Xưa và Nay | |
| Nơi làm việc: | Viện Sử học Việt Nam và Hội Sử học Việt Nam | |
| Ngày vào đảng CSVN: | ||
| Ngày chính thức: | ||
| Khen thưởng: | ||
| Kỷ luật: | Không | |
| Là ĐBQH | XI | |
| Là ĐB HĐND Quá trình công tác: | ||
Sách: "Viện Sử học Việt Nam - Gương mặt và thành tựu"
của Viện Sử học xuất bản năm 1998 viết:
Họ và tên: Dương Trung Quốc
Bút danh: Dương Trung Quốc, Quốc Anh, KGS
Quê quán: Bến Tre
Sinh: 2-6-1947 tại Hà Nội
Công tác ở Viện Sử học từ 1968 đến nay. Phó Viện trưởng Viện Sử học 1989 - 1993. Hiện nay là Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Tổng Biên tập tạp chí Xưa và Nay.
Địa chỉ: 27 Hàng Đường, Hà Nội. [trang 127]Các công trình khoa học:
Sách viết riêng:
1.Việt Nam những sự kiện lịch sử 1858-1945. Tập 3:1919-1935. Nxb.KHXH, H, 1988, 389 trang.
2. Việt Nam những sự kiện lịch sử 1858-1945. Tập 4: 1930-1945. Nxb. KHXH, H, 289 trang.
Sách viết chung: 9 cuốn.
1. Campuchia, cuộc cách mạng bị phản bội//Tìm hiểu đất nước Campuchia anh hùng/Quốc Anh, Thanh Bình. Nxb. KHXH, H, 1979, trang 114 - 150.
2. Nhìn lại việc nghiên cứu lịch sử văn hóa Việt Nam. Quốc Anh//Sử học Việt Nam trên đường phát triển/ Nhiều tác giả. Nxb. KHXH, H, 1981, trang 167 - 192.
3. Cuộc đấu tranh chống những tàn dư của chế độ cũ trong sách cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam/ Quốc Anh// Văn hóa XHCN một giai đoạn mới trong sự tiến bộ văn hóa của nhân loại/ Nhiều tác giả. Nxb. KHXH, H, 1983, tr. 405 - 439.
4. Sức mạnh chiến thắng của cuộc chống Mỹ cứu nước/Quốc Anh/ Nhiều tác giả. Nxb. KHXH, H, 1985, 380 tr.
5. Làm cho sáng chân dung các thánh/ Quốc Anh//Một số vấn đề lịch sử Đạo Thiên chúa trong lịch sử dân tộc Việt Nam/Nhiều tác giả. Viện KHXH và Ban Tôn giáo. Tp Hồ Chí Minh, 1988, trang 126 - 145.
6. Nhân vụ án phong thánh tìm hiểu các vụ án phong 117 chân phúc tử đạo trong bối cảnh lịch sử của mối quan hệ giữa giáo hội và nhà nước: Nhìn nhận từ khía cạnh thời điểm lịch sử/Quốc Anh//Vấn đề phong thánh tử đạo và lịch sử dân tộc Việt Nam/ Nhiều tác giả. UBKHXH và Ban Tôn giáo Chính phủ. H, 1988, tr. 81- 95.
7. Những gương mặt của cuộc Cách mạng/Quốc Anh// Về Đại cách mạng Pháp/Nhiều tác giả.Nxb. Sự Thật, H, 1989, tr. 120- 145.
8. Bộ máy làng xã Việt Nam thời Cận đại qua các văn bản "cải lương hương chính" của chính quyền thực dân Pháp//Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại. Tập 1/ Nhiều tác giả.Nxb. KHXH, H, 1990. tr. 259 - 289.
9. Đà Nẵng trong mối quan hệ với đô thị cổ Hội An//Đô thị cổ Hội An/ Nhiều tác giả. Nxb. KHXH, H, 1991, tr. 285 - 292.
Bài viết trong tạp chí khoa học: 18 bài. 2. Nhìn lại việc nghiên cứu lịch sử văn hóa Việt Nam. Quốc Anh//Sử học Việt Nam trên đường phát triển/ Nhiều tác giả. Nxb. KHXH, H, 1981, trang 167 - 192.
3. Cuộc đấu tranh chống những tàn dư của chế độ cũ trong sách cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam/ Quốc Anh// Văn hóa XHCN một giai đoạn mới trong sự tiến bộ văn hóa của nhân loại/ Nhiều tác giả. Nxb. KHXH, H, 1983, tr. 405 - 439.
4. Sức mạnh chiến thắng của cuộc chống Mỹ cứu nước/Quốc Anh/ Nhiều tác giả. Nxb. KHXH, H, 1985, 380 tr.
5. Làm cho sáng chân dung các thánh/ Quốc Anh//Một số vấn đề lịch sử Đạo Thiên chúa trong lịch sử dân tộc Việt Nam/Nhiều tác giả. Viện KHXH và Ban Tôn giáo. Tp Hồ Chí Minh, 1988, trang 126 - 145.
6. Nhân vụ án phong thánh tìm hiểu các vụ án phong 117 chân phúc tử đạo trong bối cảnh lịch sử của mối quan hệ giữa giáo hội và nhà nước: Nhìn nhận từ khía cạnh thời điểm lịch sử/Quốc Anh//Vấn đề phong thánh tử đạo và lịch sử dân tộc Việt Nam/ Nhiều tác giả. UBKHXH và Ban Tôn giáo Chính phủ. H, 1988, tr. 81- 95.
7. Những gương mặt của cuộc Cách mạng/Quốc Anh// Về Đại cách mạng Pháp/Nhiều tác giả.Nxb. Sự Thật, H, 1989, tr. 120- 145.
8. Bộ máy làng xã Việt Nam thời Cận đại qua các văn bản "cải lương hương chính" của chính quyền thực dân Pháp//Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại. Tập 1/ Nhiều tác giả.Nxb. KHXH, H, 1990. tr. 259 - 289.
9. Đà Nẵng trong mối quan hệ với đô thị cổ Hội An//Đô thị cổ Hội An/ Nhiều tác giả. Nxb. KHXH, H, 1991, tr. 285 - 292.
.........
[Sách đã dẫn: trang 435 - 439]
Nguyễn Xuân Diện:
1. Theo tìm hiểu của tôi. Chữ Trung Quốc trong Dương Trung Quốc, không phải là nước Trung Quốc (Trung Hoa) mà là TRUNG VỚI NƯỚC. Cụ thân sinh ra Ông Dương Trung Quốc là Liệt sĩ chống Pháp.
2. Ông Dương Trung Quốc đến nay (2010) không có công trình, chuyên khảo nào về cổ sử. Ông chỉ nghiên cứu về sử cận hiện đại, không phải chuyên gia về cổ sử.
3. Hai công trình cá nhân của Ông Dương Trung Quốc không phải công trình chuyên khảo.
4. Về học vị. Ông Dương Trung Quốc chỉ có bằng Cử nhân sử học. Ông chưa phải là Tiến sĩ, chưa từng được phong các học hàm Phó Giáo sư, Giáo sư. Tuy nhiên, rất nhiều báo chí vẫn ghi Ông là Giáo sư Dương Trung Quốc.
5. Tôi mở hồ sơ này không nhằm vào một cá nhân cụ thể, nhưng tiếc rằng, để làm rõ vấn đề, vẫn phải thông qua những ví dụ cụ thể để nói lên một vấn đề lớn mang tính nguyên tắc là các sỹ phu và học giả phải nhận thức được đầy đủ trách nhiệm và lương tri của mình để hoàn thành chức phận của họ trước các vấn đề lớn của đất nước. Trên tinh thần đó, Hồ sơ này được mở ra.
HỒ SƠ DƯƠNG TRUNG QUỐC - 1
Ông Dương Trung Quốc và phim Lý Công Uẩn
Lời dẫn của Nguyễn Xuân Diện:
Bộ phim "Lý Công Uẩn - đường tới thành Thăng Long" gây bức xúc dư luận, chuyện đó ai cũng đã biết. Có ý kiến cho rằng, không thể sửa chữa được cho bộ phim này nữa, vì nếu sửa thì phải bỏ hết, vì chỗ nào cũng Tàu. Và nếu như thế, thì sau Đại lễ cũng không thể đem chiếu. Nó phải bị cấm, và hủy bỏ.
Vậy có thể đem nó ra nước ngoài (bán, tặng, trao đổi)? Xin thưa: Không thể! Vì nó đã là thứ văn hóa phẩm, xuất bản phẩm bị cấm trong nước thì không thể đem đi đâu ra khỏi biên giới.
Trong tình hình ấy, Ông Dương Trung Quốc, một Đại biểu Quốc hội, một nhà làm sử (hay nhà sử học) như ông nói, hoặc một Giáo sư Sử học - như nhiều người gọi ông, đã viết và trả lời phỏng vấn về bộ phim này.
Bài thứ nhất là bài trả lời PV của báo Sài Gòn Giải phóng, tại đây. Bài này đã được TS. Khảo cổ học Nguyễn Hồng Kiên có ý kiến trên Blog Gốc Sậy của mình.
Dưới đây là ý kiến của Nhà văn Nguyễn Quang Lập, chủ trang Blog Quê Choa:
Bác Tung Quớ nói chi rứa hè?
Đã tự nhủ là không nói gì về phim Đường tới thành Thăng Long nữa, không có kẻ lại bảo a dua, té nước theo mưa, mệt lắm. Nhưng đọc cái bài phỏng vấn bác trên báo SGGP ngày 2/ 10 vừa rồi cứ thấy ngứa mồm, muốn thưa với bác đôi câu.
Trong bài đấy không phải bác nói cái gì cũng dở, có những nhận định cực hay. Ví như bác nói: “Nhà nước đã phó mặc cho người làm phim phục vụ cho một chủ trương lớn, sau khi đã bất lực không tổ chức nổi việc làm phim về chủ đề kỷ niệm, mà phải nhờ cậy vào “xã hội hóa”. Chuẩn không cần chỉnh, rõ là sự bất lực của Nhà nước, em đã có lúc chui vào chăn em biết.
Nhưng đến khi bác nói thế này thì thật ngao ngán: “Việc dựng hình ảnh Lý Công Uẩn trong phim mặc phẩm phục thiên tử cũng có thể hiểu như một thông điệp về ý chí tự chủ chứ sao chỉ lo cụ “giống Tàu”? Bác giải thích sự giống Tàu nghe cũng vui vui: “nước ta ở kề cạnh Trung Hoa, một nền văn minh đầy sức bành trướng, thêm nữa là luôn âm mưu đồng hóa thiên hạ… thì để tỏ rõ ý chí tự chủ các cụ nhà ta có 2 cách ứng xử, hoặc là khẳng định ta không giống phương Bắc (cương vực đã được phân chia, phong tục Bắc-Nam cũng khác…); hoặc là phương Bắc có gì ta cũng có… “
Ở đây bác nói không sai nhưng đọc kĩ thì biết bác hiểu nhầm cái chữ “giống” mất rùi. “Giống” ở đây có nghĩa không thua kém. Tức người ta có vua mình cũng có vua, vua người ta ngồi ngai vàng vua mình cũng ngồi ngai vàng, vua người ta mặc long bào vua mình cũng mặc long bào. Nhưng vì vua mình là vua Việt thì phải có ngai vàng Việt, long bào Việt. Chuyện đó là quá rõ ràng, không cần phải nói nhiều, thưa bác. Thế mà để bào chữa cho long bào vua Lý giống long bào vua Tống ở trong phim bác lại bảo vua Lý mặc long bào giống như long bào vua Tống là “như một thông điệp về ý chí tự chủ”! Bác ui, cái ý chí tự chủ bác nói đó là ý chí tự chủ kiểu AQ, không phải của dân Việt mô.
Mà lạ cho bác, khúc đầu bác vừa bảo vua Lý mặc long bào giống vua Tống là đúng, không phải lo ” giống Tàu”, thì khúc sau bác lại bảo “Xem kỹ mấy tấm hình thì thấy các nhà thiết kế cũng cố gắng đưa những họa tiết Việt trong trang trí phẩm phục của vua Nam chứ không đến nỗi mặc y nguyên áo của vua phương Bắc“. Đã bảo long bào vua Lý giống long bào vua Tống là để thể hiện ý chí tự chủ, rứa thì bác quan tâm mấy cái hoạ tiết gíống Việt vậy để mần chi?
Bác cũng hay nói trước quên sau lắm. Ngày mồng 2/10 trả lời báo SGGP bác tỏ ra ủng hộ bộ phim Đường tới thành Thăng Long:”… cứ xem rồi mới biết, đừng nên quá ồn ào khiến sau này chẳng ai dám làm thì biết bao giờ ta có phim của ta tự làm như mong muốn.” và khuyên mọi người nên cảm ơn những người làm nên bộ phim này: ”Cho nên trước hết phải cảm ơn những người đã bỏ sức, bỏ tiền ra làm những bộ phim này trước khi phán xét nó có đủ chất lượng để chiếu hay không?” Sang ngày mồng 3/10 trả lời báo Lao động bác đã lại nói thế này:”Chúng ta chỉ có một câu chuyện lịch sử, mà chưa có một khung cảnh, thiếu hẳn tất cả các yếu tố trực quan: trang phục, nội ngoại thất… Không ai bắt phim phải y như thật, nhưng nó phải cho ra cái chất VN. Chỉ riêng việc dựng tượng cụ Lý Công Uẩn ở vườn hoa mà đã có nhiều ý kiến khác nhau, cụ lên phim còn phức tạp thế nào. Tôi nghĩ chúng ta chưa đủ sức làm phim về thời kỳ này đâu. Nên bắt đầu bằng một thời kỳ lịch sử khác, gần gũi hơn, nhiều sử liệu hơn, nhiều di tích vật thể còn lại hơn” Nỏ biết bác nói chi, muốn chi nữa, tự bác mâu thuẫn với bác tùm lum tùm la.
Bác Tung Quớ ui, muốn nói nhiều nữa, nhưng thôi, anh em kiến giả nhất phận, chỉ biết thở dài thôi bác ạ, hu hu.
Kính bác.
Nguồn: Blog Quê choa.
Xem đầy đủ bài viết tại http://nguyenxuandien.blogspot.com/2010/10/ho-so-duong-trung-quoc-1.html
==============
HỒ SƠ DƯƠNG TRUNG QUỐC - 2
Ông Dương Trung Quốc và phim Lý Công Uẩn - bài 2
Lời dẫn mượn của Bọ Lập:
Bác cũng hay nói trước quên sau lắm. Ngày mồng 2/10 trả lời báo SGGP bác tỏ ra ủng hộ bộ phim Đường tới thành Thăng Long:”… cứ xem rồi mới biết, đừng nên quá ồn ào khiến sau này chẳng ai dám làm thì biết bao giờ ta có phim của ta tự làm như mong muốn.” và khuyên mọi người nên cảm ơn những người làm nên bộ phim này: ”Cho nên trước hết phải cảm ơn những người đã bỏ sức, bỏ tiền ra làm những bộ phim này trước khi phán xét nó có đủ chất lượng để chiếu hay không?”.
Sang ngày mồng 3/10 trả lời báo Lao động bác đã lại nói thế này:”Chúng ta chỉ có một câu chuyện lịch sử, mà chưa có một khung cảnh, thiếu hẳn tất cả các yếu tố trực quan: trang phục, nội ngoại thất… Không ai bắt phim phải y như thật, nhưng nó phải cho ra cái chất VN. Chỉ riêng việc dựng tượng cụ Lý Công Uẩn ở vườn hoa mà đã có nhiều ý kiến khác nhau, cụ lên phim còn phức tạp thế nào. Tôi nghĩ chúng ta chưa đủ sức làm phim về thời kỳ này đâu. Nên bắt đầu bằng một thời kỳ lịch sử khác, gần gũi hơn, nhiều sử liệu hơn, nhiều di tích vật thể còn lại hơn” Nỏ biết bác nói chi, muốn chi nữa, tự bác mâu thuẫn với bác tùm lum tùm la.
Dưới đây là toàn văn bài của Ông Dương Trung Quốc trên Lao Động cuối tuần:
“Hãy bắt đầu bằng việc chăn một đàn ngựa...”

“Hãy bắt đầu bằng việc chăn một đàn ngựa...”

Ta cứ thử hình dung, kể từ khi Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng (năm 938) đến khi Lý Công Uẩn lên ngôi (1009), tính ra nước ta mới thoát khỏi ách đô hộ, là quận huyện của phương Bắc mới có 71 năm. Vậy mà một người đứng đầu cái quận huyện xưa của Trung Hoa, đến khi lên ngôi rồi mà Hoàng đế phương Bắc vẫn chỉ phong cho người đứng đầu Đại Cồ Việt la “Giao Chỉ Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ” (tức là vẫn dùng địa danh và chức tước của người đứng đầu quận huyện xưa), mà đức Lý Thái Tổ vẫn khoác trên mình phẩm phục giống như Thiên tử phương Bắc, thì âu cũng là một cách ứng xử không phải là không có lòng tự chủ!
Và nếu ta có về đất cố đô Hoa Lư vào thăm đền thờ Đinh Tiên Hoàng hay Lê Đại Hành vẫn thấy dân ta tạc tượng các ngài đội mũ bình thiên, tựa như tượng đức Lê Thái Tổ dựng bên hồ Gươm, tuy nhỏ nhưng đứng trên cột cao cũng đội mũ bình thiên chỉ kiếm xuống hồ, mới thấy một lối ứng xử của dân ta khi phải tương quan với các nước lớn...
Sang ngày mồng 3/10 trả lời báo Lao động bác đã lại nói thế này:”Chúng ta chỉ có một câu chuyện lịch sử, mà chưa có một khung cảnh, thiếu hẳn tất cả các yếu tố trực quan: trang phục, nội ngoại thất… Không ai bắt phim phải y như thật, nhưng nó phải cho ra cái chất VN. Chỉ riêng việc dựng tượng cụ Lý Công Uẩn ở vườn hoa mà đã có nhiều ý kiến khác nhau, cụ lên phim còn phức tạp thế nào. Tôi nghĩ chúng ta chưa đủ sức làm phim về thời kỳ này đâu. Nên bắt đầu bằng một thời kỳ lịch sử khác, gần gũi hơn, nhiều sử liệu hơn, nhiều di tích vật thể còn lại hơn” Nỏ biết bác nói chi, muốn chi nữa, tự bác mâu thuẫn với bác tùm lum tùm la.
Dưới đây là toàn văn bài của Ông Dương Trung Quốc trên Lao Động cuối tuần:
“Hãy bắt đầu bằng việc chăn một đàn ngựa...”
Chủ Nhật, 3.10.2010 | 10:00 (GMT + 7)

“Hãy bắt đầu bằng việc chăn một đàn ngựa...”
Tôi nhớ có lần khi bàn đến chuyện làm phim lịch sử, đạo diễn NSND Đặng Nhật Minh có nói vui nhưng nghiêm túc rằng, trước khi muốn làm phim lịch sử thì hãy nuôi một đàn ngựa ra ngựa, hàm ý nói rằng phải có sự chuẩn bị những điều kiện.
Đúng là trước đó xem nhiều bộ phim thấy quân tướng ta toàn cưỡi ngựa thồ vừa còi vừa nhỏ... Lại nghe đâu mới đây, anh bạn doanh nghiệp có trang trại ở M’ Drak nuôi toàn ngựa xịn nhập từ Trung Đông hay Châu Úc, nên đã có người mượn để quay phim...
Khoan bàn cãi xem ở nước ta, có cảnh phi ngựa nhập ngoại múa đao tung hoành nơi trận tiền hay không, nhưng đạo diễn Đặng Nhật Minh đã cảnh báo trước những khó khăn cho những ai dấn thân vào lĩnh vực đang được xã hội quan tâm này cần có cái nhìn xa trông rộng. Và mối quan tâm làm phim thể tài lịch sử càng lớn khi chúng ta chuẩn bị cho Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.
![]() |
Cảnh trong phim “Lý Công Uẩn - đường đến thành Thăng Long”. |
Vài năm trước, thành phố Hà Nội sẵn lòng đầu tư để các hãng phim, trước hết là các hãng quốc doanh làm phim kỷ niệm. Đã phát động, đăng ký, tuyển chọn rồi triển khai mà cuối cùng vẫn không thành vì chưa giải được bài toán ai làm và hết bao nhiêu tiền là vừa... Cuối cùng thì nhiều hãng làm phim tư nhân vào cuộc vừa để thoả lòng được đóng góp Đại lễ vừa để thử sức mình và hy vọng mở ra một lĩnh vực sản xuất mà ai cũng biết là không ít tiềm năng từ sự phong phú các thể tài khai thác từ bề dày lịch sử dân tộc nói chung, liên quan đến Thăng Long - Hà Nội nói riêng.
Không thể không coi những nhà đầu tư mang tính mạo hiểm này là dũng cảm và có bầu máu nóng muốn cống hiến cho xã hội, dám ganh đua với thiên hạ và nhiều kỳ vọng mở ra một trường kinh doanh hứa hẹn. Cuối cùng thì cũng đã có vài hãng vào cuộc, huy động được nhiều nghệ sĩ tài danh nhưng chắc chắn là chưa nhiều trải nghiệm thành công trên thể loại mới mẻ này.
Thế nhưng, phim chưa ra rạp, mới trong phòng kín của các nhà kiểm duyệt thì dư luận đã ồn ào mà chủ yếu là phê phán nhiều hơn khích lệ khiến cho những nhà đầu tư e sợ, những người làm phim e ngại còn dư luận người chưa xem cũng e dè. Mà đọc kỹ những dư luận trên một vài bài báo và râm ran trên mạng thấy những phê phán chẳng mấy cơ sở để thuyết phục.
Vì sao mà Lý Công Uẩn lại mặc triều phục như hệt vua phương Bắc? Cái thắc mắc này đã từng được nêu lên khi tượng đài đức Lý Thái Tổ dựng bên bờ hồ Hoàn Kiếm cách nay đã 5 năm. Nếu coi đó là biểu hiện không đề cao tinh thần dân tộc thì hãy đặt câu hỏi cho chính người đặt ra câu hỏi rằng họ mặc gì, đông đảo người dân và các quan chức cao cấp nhất lúc ấy ăn mặc ra sao?
Tôi nhớ tới việc cách đây đã 10 năm, trước khi bước vào thế kỷ mới (XXI) cũng là chuẩn bị cho lần đầu tổ chức Quốc lễ Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2000, Bộ Văn hoá - Thông tin mất nhiều năm tổ chức rất quy mô việc thiết kế một bộ quốc phục để sử dụng trong những lễ tiết nhà nước. Các nhà thiết kế cùng các giới văn hoá, tạo hình... cất công cuối cùng cùng ra được một bộ quốc phục. Nhưng rồi vị lãnh đạo cao cấp theo kế hoạch sẽ mặc bộ cánh quốc phục này để hành lễ đã lắc đầu từ chối... Thế là... đâu lại vào đấy cho tới nay.
Như vậy nếu Lý Công Uẩn có mặc “Bắc phục” thì cũng đừng vì thế mà phiền lòng nghĩ rằng cụ ít lòng với văn hoá dân tộc. Vả lại nếu có “nối quốc thống” thì cũng chẳng ai biết rằng An Dương Vương ăn mặc ra sao, và nếu nối tiếp nữa thì không lẽ đến đời Cụ Lý Công Uẩn còn đeo lông chim, đóng khố... như hình vẽ trên trống đồng để thiết triều...(?). Tinh ý còn thấy các nhà làm phim của ta cũng cố tạo ra những nét riêng trong các chi tiết như những hình trang trí hay màu sắc trên các bộ triều phục vốn của người phương Bắc...
Vả lại cũng cần nói rằng, nước ta nằm cạnh Trung Hoa, một thế lực có sức bành trướng lớn, lại có nền văn minh lớn cùng chính sách đồng hoá khắc nghiệt, nên để biểu hiện tinh thần tự chủ, tổ tiên ta có hai cách hành xử. Một là, ta khác họ, họ răng trắng (bạch xỉ) thì ta nhuộm răng đen. Nhưng cũng có một cách ứng xử khác là họ có gì ta cũng có nấy. Họ có hoàng đế thì ta cũng “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”. Hoàng đế của họ đội mũ bình thiên thì vua ta, đế ta cũng đội mũ bình thiên.

Ta cứ thử hình dung, kể từ khi Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng (năm 938) đến khi Lý Công Uẩn lên ngôi (1009), tính ra nước ta mới thoát khỏi ách đô hộ, là quận huyện của phương Bắc mới có 71 năm. Vậy mà một người đứng đầu cái quận huyện xưa của Trung Hoa, đến khi lên ngôi rồi mà Hoàng đế phương Bắc vẫn chỉ phong cho người đứng đầu Đại Cồ Việt la “Giao Chỉ Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ” (tức là vẫn dùng địa danh và chức tước của người đứng đầu quận huyện xưa), mà đức Lý Thái Tổ vẫn khoác trên mình phẩm phục giống như Thiên tử phương Bắc, thì âu cũng là một cách ứng xử không phải là không có lòng tự chủ!
Và nếu ta có về đất cố đô Hoa Lư vào thăm đền thờ Đinh Tiên Hoàng hay Lê Đại Hành vẫn thấy dân ta tạc tượng các ngài đội mũ bình thiên, tựa như tượng đức Lê Thái Tổ dựng bên hồ Gươm, tuy nhỏ nhưng đứng trên cột cao cũng đội mũ bình thiên chỉ kiếm xuống hồ, mới thấy một lối ứng xử của dân ta khi phải tương quan với các nước lớn...
Có lần sang Hàn Quốc, gặp các đồng nghiệp hỏi rằng các bạn có vai trò gì trong những bộ phim lịch sử rất hấp dẫn của các bạn? Đương nhiên, Hàn Quốc có nhiều kinh nghiệm hơn ta, họ tích luỹ được nhiều di sản vật thể và phi vật thể, đầu tư nghiên cứu cũng như có một công nghệ dịch vụ rất phong phú và chuyên nghiệp giúp cho những nhà làm phi lịch sử dễ dàng thuê mướn và tiếp tục sáng tạo theo yêu cầu bộ phim của mình.
Tuy nhiên các đồng nghiệp Hàn Quốc cũng lưu ý rằng, vai trò quan trọng nhất vẫn thuộc về các nhà làm phim trong đó có những chuyên gia chuyên xử lý các vấn đề lịch sử (chứ không phải là các nhà sử học). Và họ đưa ra một nguyên lý rất cơ bản là những bộ phim lịch sử là phải “làm đẹp Tổ tiên” cùng vì một lẽ đơn giản họ quan niệm lịch sử còn là ngụ ngôn để chuyển tải những giá trị hợp với lợi ích của dân tộc.
Lại thấy dư luận e ngại về việc ta phải sang Trung Quốc làm phim. Riêng tôi còn có một trải nghiệm khá cay đắng đã từng được một hội bạn ở trong nước mời làm cố vấn cho một bộ phim trong giai đoạn vận động nhà nước cấp ngân sách. Đến khi ngân sách có rồi thì hãng phim của hội đó liên doanh với một hãng phim của Trung Quốc, chẳng những mời đạo diễn mà mời luôn đối tác nước ngoài làm cố vấn lịch sử. Y như rằng, họ gài vào phim những chi tiết chẳng hề có trong lịch sử để đề cao công của họ đối với việc cứu lãnh tụ của ta... Nhưng vì có lợi cho một nhóm lợi ích nào đó, nên mọi sự đều bị lờ đi... Đúng là khi làm phim về thể tài lịch sử với đối tác nước ngoài, người làm phim cũng phải đề cao tinh thần tự chủ như những câu chuyện lịch sử mà ta chuyển tải trong phim.
Nhưng đã nói đi thì phải nói lại. Làm gì ta cũng phải có thầy. Trong việc làm phim lịch sử thì Trung Quốc là một bậc thầy, ta nên học, họ cũng lại là nơi có hệ thống dịch vụ rất chuyên nghiệp, nếu biết cách sẽ là một đội ngũ giúp việc rất lành nghề. Không phải là hợp tác chung vốn làm phim, thì các hãng phim Việt Nam biết cách vẫn có thể coi nền điện ảnh láng giềng hoành tráng này là một môi trường vừa học thầy vừa khiến thợ. Tại sao lại e ngại. Vấn đề là bản lĩnh của người làm phim Việt Nam, chứ không phải là làm trong nước hay ngoài nước.
Vấn đề còn lại chính là vai trò Nhà nước ở đâu, ngoài việc kiểm duyệt để cấp phép từ khâu làm phim đến phát hành phim. Đặc điểm của phim thể tài lịch sử luôn đề cập tới những vấn đề vừa quan hệ đến những mục tiêu giáo dục, quảng bá của Nhà nước lại dễ nhạy cảm, đụng chạm. Vậy thì Nhà nước phải quan tâm hỗ trợ từ kinh phí đến việc xây dựng những công trình hạ tầng kỹ thuật như trường quay hay đào tạo những nguồn nhân lực đáp ứng mục tiêu làm thể loại phim ảnh này.
Dẫu sao, đã có những người dũng cảm bất chấp mọi khó khăn nhập cuộc như những người góp phần mở đường. Chúng ta hãy rộng lòng đón nhận và cùng chia sẻ những thành công cũng như va vấp của những thành quả đầu tiên trong những ngày vui Đại lễ này. Giống như phải nuôi một đàn ngựa trước khi làm một trường đoạn cưỡi ngựa trong phim, mong sao mọi người hãy nuôi cái chí làm phim cho những người đã dám làm phim lịch sử ở nước ta vào thời điểm này...
Dương Trung Quốc
Nguồn: Lao Động.
Anh Ba Sàm bình luận:
“Dẫu sao, đã có những người dũng cảm bất chấp mọi khó khăn nhập cuộc như những người góp phần mở đường. Chúng ta hãy rộng lòng đón nhận và cùng chia sẻ những thành công cũng như va vấp của những thành quả đầu tiên trong những ngày vui Đại lễ này. Giống như phải nuôi một đàn ngựa trước khi làm một trường đoạn cưỡi ngựa trong phim, mong sao mọi người hãy nuôi cái chí làm phim cho những người đã dám làm phim lịch sử ở nước ta vào thời điểm này…” Ô hô! Đúng là phải nuôi ngựa mới có ngựa đóng phim, nhưng ông không coi là quan trọng rằng đâu ra thứ ngựa đem về nuôi đó (tụi lái ngựa nó chôm của người ta, hay đó là của … bố thí, cứ nhắm mắt nhận bừa ?) thì thiệt là đáng buồn.
Xem đầy đủ bài viết tại http://nguyenxuandien.blogspot.com/2010/10/ho-so-duong-trung-quoc-2.html
==============
====
| HỒ SƠ DƯƠNG TRUNG QUỐC - 3 | for everyone |
ÔNG DƯƠNG TRUNG QUỐC PR CHO ĐẠI NAM LẠC CẢNH
Liên tục trong nhiều số gần đây, Tạp chí Xưa và Nay - cơ quan của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, do Ông Dương Trung Quốc làm Tổng biên tập đã đăng tải hình ảnh PR cho Khu Du lịch Lạc Cảnh Đại Nam Văn Hiến - một khu được xem là Bái Đính của miền Nam. Tôi đã đến xem Bái Đính một lần. Tôi nghĩ, những người có hiểu biết và có tự trọng đều chỉ đến đó 1 lần. Còn cái Đại Nam Lạc cảnh Văn hiến tôi chỉ mới thấy trên ti vi, báo chí và Blog, nhưng đã cảm thấy quá nhục vì VN có một nơi như thế mà lại lấy chữ Đại Nam làm tên gọi!
Tạp chí Xưa và Nay - cơ quan của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam.
Trên mỗi số tạp chí có 8 trang (in giấy đẹp, bóng, ảnh màu) in ảnh Khu Du lịch Lạc Cảnh Đại Nam văn hiến. Trên cùng của mỗi trang là logo của Đại Nam Văn hiến, và tên ông chủ Huỳnh Uy Dũng. Trên trang có ảnh cảnh Hà Nội Xưa & Nay (chắc phải do Ông Dương Trung Quốc cung cấp- nhất là các ảnh đen trắng chụp HN cổ xưa). Và tệ nhất là các trang đều có in 2 hoặc 3 bài "thơ" của Ông chủ Khu Du lịch Lạc cảnh Đại Nam văn hiến. Giời ạ! Thơ này trang trí ở nhà ông ấy thì được, quyết không thể đem đăng lên Tạp chí Xưa và Nay của Hội Khoa học Lịch sử được!
Xin mời chư vị nghe chơi vài bài:
Làng Đường Lâm
Làng cổ Đường Lâm ở chốn nào
Bốn nghìn năm cũ đọng vàng sao
Gò Cang, Áng Độ: Tình lưu luyến
Núi Tản, sông Đà: Nghĩa thức thao
Bóng mát cành đa ....năm thế kỷ
Bờ xôi ruộng mật .... tỷ chiêm bao
Một làng sinh những hai Vua Cả
Truyền thống Phùng, Ngô ...nhất tự hào!
Văn Miếu Quốc Tử giám
Văn Miếu nghìn năm đã dựng gầy
Mùa thu tháng tám dấu còn đây
Tượng đài Khổng Tử ngời gương mẫu
Bóng dáng Chu Công tỏ mặt mày
Thất thập nhị hiền xinh cá nước
Thiên niên kỷ thánh đẹp rồng mây
Một nền quốc học ngời minh triết
Để tánh chi sơ bản thiện này.
=============
HỒ SƠ DƯƠNG TRUNG QUỐC - 4
1. Năm 2003, Ông Dương Trung Quốc từng thay mặt Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam "nhận lời tổ chức hội thảo khoa học" về "Đền Cẩu Nhi" (xem ảnh) trên hồ Trúc Bạch, Hà Nội.
"Đền Cẩu Nhi"
Công văn số 58/HSH do Ông Dương Trung Quốc ký.
Ngày 13 tháng 2 năm 2004, Ông Dương Trung Quốc ký công văn số 02/HSH, gửi UBND quận Ba Đình, nêu rõ: "Hội Khoa học lịch sử Việt Nam hoàn toàn thống nhất với kiến nghị phục hồi, tôn tạo di tích đền Cẩu Nhi - một địa danh liên quan đến lịch sử Thăng Long - Hà Nội. Đề nghị UBND quận Ba Đình tiến hành làm việc với các cơ quan chức năng để lập dự án phục hồi, tôn tạo di tích đền Cẩu Nhi đưa vào phát huy tác dụng trong dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội".
Rất may là sau đó, nhiều nhà khoa học lên tiếng phản đối việc này, nếu không, dịp Đại lễ này, sẽ có một ngôi đền được xây dựng với kinh phí 15 tỷ đồng (năm 2005) trên gò đất đẹp (xem ảnh), để thờ một con chó con - mà theo sách Tây Hồ chí thì con chó này đã dẫn lối cho Lý Công Uẩn chọn đất định đô.
Ông Dương Trung Quốc, trước phản ứng của các nhà khoa học, sau khi xem xét các bản báo cáo trái chiều, đã không tham gia các hội thảo khoa học sau đó.
2. Vào ngày 9 tháng 1 năm 2007, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam đã tổ chức Hội thảo khoa học: Hoằng Nghị Đại vương và việc bảo tồn, tôn tạo khu di tích lịch sử - văn hóa Phương La (Thái Phương, Hưng Hà, Thái Bình. Sau đó, các tham luận đã được xuất bản thành sách, Nhà sử học Dương Trung Quốc, Tổng Thư ký Hội Khoa học lịch sử Việt Nam là người có tên trong Ban biên tập.
Rất may là sau đó, nhiều nhà khoa học lên tiếng phản đối việc này, nếu không, dịp Đại lễ này, sẽ có một ngôi đền được xây dựng với kinh phí 15 tỷ đồng (năm 2005) trên gò đất đẹp (xem ảnh), để thờ một con chó con - mà theo sách Tây Hồ chí thì con chó này đã dẫn lối cho Lý Công Uẩn chọn đất định đô.
Ông Dương Trung Quốc, trước phản ứng của các nhà khoa học, sau khi xem xét các bản báo cáo trái chiều, đã không tham gia các hội thảo khoa học sau đó.
2. Vào ngày 9 tháng 1 năm 2007, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam đã tổ chức Hội thảo khoa học: Hoằng Nghị Đại vương và việc bảo tồn, tôn tạo khu di tích lịch sử - văn hóa Phương La (Thái Phương, Hưng Hà, Thái Bình. Sau đó, các tham luận đã được xuất bản thành sách, Nhà sử học Dương Trung Quốc, Tổng Thư ký Hội Khoa học lịch sử Việt Nam là người có tên trong Ban biên tập.
Sách do Nxb Thế giới ấn hành 1.000 bản , quý IV năm 2007.
Được biết, Ông Trần Văn Sen, chủ hãng bia Đại Việt trang trải mọi chi phí cho
hội thảo và in ấn sách Kỷ yếu.
Nhận thấy nhiều "vấn đề" của Hội thảo trên, nhà nghiên cứu Đặng Hùng đã cho xuất bản cuốn sách: Long Hưng- đất phát nghiệp Vương triều Trần. Nxb VHTT, Hà Nội, phát hành quý 1 năm 2010.
Cuốn sách đề cập đến nhiều vấn đề nghiêm trọng về sử liệu nên được sự quan tâm đặc biệt của dư luận, vì vậy ngay sau đó vài tháng cuốn sách đã được tái bản có chỉnh lý và bổ sung, với 1.000 bản in.
Được biết, Ông Trần Văn Sen đã cho xây một sinh phần (mộ xây sẵn, khi người còn sống) cho vợ chồng ông, với quy mô hoành tráng và có kiểu dáng giống với lăng Hồ Chủ tịch tại quê nhà - độc giả có thể tìm đọc trên báo An Ninh thế giới trong loạt bài về các khu lăng mộ bạc tỷ. Ông Trần Văn Sen cố gắng để ngành văn hóa Thái Bình xếp hạng di tích này (?), để thờ Hoằng Nghị Đại vương mà Ông Sen muốn các nhà sử học chứng minh rằng Hoằng Nghị Đại vương là Bố của Thái Sư Trần Thủ Độ. Tuy nhiện, Ông Đặng Hùng khẳng định Hoằng Nghị Đại vương chỉ là một bịa đặt vô căn cứ, và ông đã trình bày rất rõ ràng, tỷ mỉ, khoa học trong cuốn sách trên.
Được biết, hiện nay, ngành văn hóa Thái Bình cũng chưa xếp hạng cho cái "di tích" của Ông Trần Văn Sen.
Được biết, Ông Trần Văn Sen đã cho xây một sinh phần (mộ xây sẵn, khi người còn sống) cho vợ chồng ông, với quy mô hoành tráng và có kiểu dáng giống với lăng Hồ Chủ tịch tại quê nhà - độc giả có thể tìm đọc trên báo An Ninh thế giới trong loạt bài về các khu lăng mộ bạc tỷ. Ông Trần Văn Sen cố gắng để ngành văn hóa Thái Bình xếp hạng di tích này (?), để thờ Hoằng Nghị Đại vương mà Ông Sen muốn các nhà sử học chứng minh rằng Hoằng Nghị Đại vương là Bố của Thái Sư Trần Thủ Độ. Tuy nhiện, Ông Đặng Hùng khẳng định Hoằng Nghị Đại vương chỉ là một bịa đặt vô căn cứ, và ông đã trình bày rất rõ ràng, tỷ mỉ, khoa học trong cuốn sách trên.
Được biết, hiện nay, ngành văn hóa Thái Bình cũng chưa xếp hạng cho cái "di tích" của Ông Trần Văn Sen.
Nguyễn Xuân Diện
Xem đầy đủ bài viết tại http://nguyenxuandien.blogspot.com/2010/10/ho-so-duong-trung-quoc-4.html
============
| HỒ SƠ DƯƠNG TRUNG QUỐC - 5 |
NGỤY BIỆN
Đoan Trang Câu chuyện xoay quanh bộ phim cổ sử Việt Nam nhưng đậm chất Trung Hoa, “Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long”, tưởng đã lắng xuống nhưng rồi vẫn tiếp tục gây dư luận, sau khi nhà sử học Dương Trung Quốc lên tiếng bênh vực những nhà làm phim.
Trong một xã hội đa nguyên, việc tồn tại những ý kiến khác biệt, thậm chí trái ngược nhau, về một sự vật, hiện tượng nào đó, là rất đỗi bình thường. Cái đáng nói ở đây chỉ là sự ngụy biện lộ liễu ở phần lớn các ý kiến ủng hộ phim “Lý Công Uẩn”, mà ngay một nhà nghiên cứu như ông Dương Trung Quốc cũng mắc phải. Ta hãy xem một ngụy biện rất điển hình khi ông phát biểu: “Vì sao mà Lý Công Uẩn lại mặc triều phục như hệt vua phương Bắc? Cái thắc mắc này đã từng được nêu lên khi tượng đài đức Lý Thái Tổ dựng bên bờ hồ Hoàn Kiếm cách nay đã 5 năm. Nếu coi đó là biểu hiện không đề cao tinh thần dân tộc thì hãy đặt câu hỏi cho chính người đặt ra câu hỏi rằng họ mặc gì, đông đảo người dân và các quan chức cao cấp nhất lúc ấy ăn mặc ra sao?”.
Trong tranh biện, người ta xếp lập luận kiểu này vào một phép ngụy biện có tên là “Sức ép bằng chứng” (tiếng Anh: Burden of Proof), GS Nguyễn Văn Tuấn gọi/ dịch là “luận điệu ngược ngạo”. Đó là khi thay vì chứng minh quan điểm của mình, người phát biểu đẩy gánh nặng tìm bằng chứng sang đối thủ. Nhiều trường hợp, khi thấy bên A thiếu bằng chứng hỗ trợ cho một quan điểm nào đó, bên B liền coi như mình đã có đủ bằng chứng, kiểu như: “Ông A không thể chứng minh được rằng linh hồn không tồn tại. Như vậy là linh hồn có tồn tại”.
Tôi thấy hình như một biến thể của kiểu ngụy biện này là: Khi có một số ý kiến cho rằng Nhà nước Việt Nam có biểu hiện ứng xử hèn yếu trước Trung Quốc, bằng chứng là blah, blah, blah, và phe phản bác, thay vì đưa ra bằng chứng cho thấy Nhà nước Việt Nam đã không hèn yếu, thì lại thách thức: "Các vị giỏi thì mang súng đạn ra biển đánh nhau với Trung Quốc, bảo vệ ngư dân, bảo vệ hải đảo đi".
Ở phát biểu trên của ông Dương Trung Quốc, ông không đưa ra chứng cứ nào bảo vệ cho cách phục trang, thiết kế bối cảnh “Trung Hoa” của phim, mà quay sang “đặt câu hỏi cho chính người đặt ra câu hỏi”, đẩy "burden of proof" sang phía đối thủ. Trên thực tế, có lẽ cả ông Quốc, cả những người ủng hộ lẫn người phản bác bộ phim này đều không biết thời Tiền Lê - Lý, dân phục và quan phục nước ta như thế nào. Và đơn giản là, nếu không biết thì không được làm như đối tác ở nước lạ, à nước bạn, muốn; nếu không biết thì điều tốt nhất các nhà làm phim có thể thực hiện là hãy cố gắng hướng tới việc tạo ra “chất Việt, hồn Việt” trong tác phẩm. Vì sao những truyện tranh lịch sử nổi tiếng của chúng ta, ví dụ Sát Thát (họa sĩ Nguyễn Bích), lại ra được hồn Việt, lại không gây cảm giác xa lạ cho người xem như phim Lý Công Uẩn?
Tranh luận, thảo luận là điều bình thường, nên khuyến khích. Tuy nhiên, việc các phép ngụy biện xuất hiện trong phát biểu của một nhà khoa học cho thấy văn hóa tranh luận trong xã hội Việt Nam còn cần được cải thiện thêm.
[Lược bỏ phần Vĩ thanh - NXD]Nguồn: Blog Đoan Trang.
Nguồn Tiên lãng







Có lẽ bị nhiều người chửi nên ku Riện phải xóa đi. Nhưng thời Internet, có gì xóa sạch được đâu? Vẫn còn 1 số trang lưu lại.
Đề nghị chị chủ nhà đang vài tập trong bộ Hồ sơ này xem mấy ông "lề trái" lúc chôn ông Quốc xuống bùn đen, nay lại bốc lên mây xanh ra sao!